CBAM (Carbon Border Adjustment Mechanism – cơ chế điều chỉnh carbon biên giới) là quy định của EU buộc nhà nhập khẩu một số hàng hoá thâm dụng carbon phải mua và nộp chứng chỉ tương ứng với lượng khí nhà kính phát thải trong quá trình sản xuất ra hàng hoá đó, với giá gắn với thị trường carbon của EU. Mục đích là để hàng nhập khẩu chịu chi phí carbon tương đương hàng sản xuất trong EU, tránh việc doanh nghiệp chuyển sản xuất ra nước có quy định lỏng hơn.
Các nhóm hàng thuộc phạm vi theo Quy định (EU) 2023/956 là sắt thép, nhôm, xi măng, phân bón, hydro và điện, cùng một số sản phẩm hạ nguồn như ốc vít, bu lông bằng thép. Giai đoạn chuyển tiếp chỉ yêu cầu báo cáo đã kết thúc cuối năm 2025; từ năm 2026 bước sang giai đoạn chính thức có nghĩa vụ tài chính. Với Việt Nam, thép và nhôm là hai nhóm chịu tác động rõ nhất.
Logic kinh tế: rò rỉ carbon và vì sao EU chọn công cụ biên giới
Hệ thống mua bán phát thải của EU (EU ETS) hoạt động từ năm 2005, buộc nhà máy trong EU nộp hạn ngạch cho mỗi tấn CO2 phát thải. Khi giá carbon tăng, ngành thép, xi măng, nhôm của EU đứng trước nguy cơ mất sức cạnh tranh với hàng nhập khẩu không chịu chi phí tương tự. Hiện tượng sản xuất và phát thải dịch chuyển ra ngoài khu vực có giá carbon được gọi là rò rỉ carbon.
Cách xử lý trước đây là cấp hạn ngạch miễn phí cho các ngành có nguy cơ rò rỉ. Nhưng hạn ngạch miễn phí làm yếu tín hiệu giá, mâu thuẫn với mục tiêu giảm phát thải. CBAM thay thế dần cơ chế này: theo lộ trình, hạn ngạch miễn phí cho các ngành thuộc CBAM giảm dần trong giai đoạn từ 2026 tới đầu thập niên 2030, song song với việc nghĩa vụ CBAM tăng lên tương ứng.
Giới kinh tế học tranh luận về CBAM ở nhiều điểm: có tương thích với nguyên tắc không phân biệt đối xử của WTO không, có gánh nặng không công bằng lên nước đang phát triển không, có thật sự giảm phát thải toàn cầu hay chỉ phân luồng lại thương mại (nhà máy sạch bán sang EU, nhà máy bẩn bán chỗ khác). Những câu hỏi đó chưa có lời đáp dứt khoát, nhưng với doanh nghiệp, quy định đã có hiệu lực và chi phí là có thật.
Hai giai đoạn của CBAM
Khác biệt giữa hai giai đoạn quyết định doanh nghiệp xuất khẩu cần chuẩn bị gì. Một số chi tiết đã được EU đơn giản hoá trong năm 2025; kiểm văn bản hiện hành trước khi lập kế hoạch.
| Khía cạnh | Chuyển tiếp (10/2023 – 12/2025) | Chính thức (từ 2026) |
|---|---|---|
| Nghĩa vụ của nhà nhập khẩu EU | Báo cáo hằng quý lượng phát thải nội hàm | Phải là người khai báo CBAM được cấp phép, khai báo hằng năm và nộp chứng chỉ |
| Nghĩa vụ tài chính | Không | Mua chứng chỉ CBAM theo giá gắn với giá đấu giá EU ETS |
| Dữ liệu phát thải | Được dùng giá trị mặc định trong một số trường hợp | Dữ liệu thực tế phải được thẩm định bởi bên thẩm định được công nhận; giá trị mặc định thường bất lợi |
| Ngưỡng miễn trừ | Miễn cho lô giá trị rất nhỏ | Ngưỡng theo khối lượng hằng năm cho mỗi nhà nhập khẩu, giúp loại phần lớn nhà nhập khẩu nhỏ |
| Khấu trừ giá carbon đã trả | Chỉ báo cáo | Được khấu trừ giá carbon đã thực trả ở nước sản xuất |
Với nhà xuất khẩu Việt Nam, điểm quan trọng nhất là giá trị mặc định. Nếu không có dữ liệu thực tế được thẩm định, nhà nhập khẩu phải dùng giá trị mặc định do EU công bố, được thiết kế ở mức thận trọng, nghĩa là cao hơn phát thải của nhà máy hiệu quả. Nhà máy có dữ liệu tốt và phát thải thấp sẽ có lợi thế giá rõ rệt so với đối thủ chỉ dùng giá trị mặc định.
Phát thải nội hàm được tính như thế nào
Phát thải nội hàm (embedded emissions) là lượng khí nhà kính phát ra trong quá trình sản xuất hàng hoá, tính bằng tấn CO2 tương đương trên mỗi tấn sản phẩm. CBAM chia thành phát thải trực tiếp từ quá trình sản xuất tại nhà máy (đốt nhiên liệu, phản ứng hoá học như khử quặng sắt hay nung clinker) và phát thải gián tiếp từ điện tiêu thụ. Với một số nhóm như xi măng và phân bón, phát thải gián tiếp được tính vào; với sắt thép, nhôm, hydro, giai đoạn đầu chủ yếu tính phát thải trực tiếp, nhưng phạm vi có thể được mở rộng.
Phương pháp tính dựa trên ranh giới hệ thống của từng quy trình sản xuất. Với sản phẩm phức hợp, phải cộng thêm phát thải nội hàm của tiền chất. Ví dụ một tấn ống thép không chỉ gồm phát thải ở công đoạn cán ống, mà gồm cả phát thải của phôi thép được dùng làm đầu vào, dù phôi do nhà máy khác sản xuất. Điều này nghĩa là nhà sản xuất hạ nguồn phải lấy được dữ liệu từ nhà cung cấp phôi.
Công nghệ sản xuất tạo khác biệt lớn. Thép từ lò cao dùng than cốc thường có cường độ phát thải trực tiếp cao hơn nhiều so với thép từ lò điện hồ quang dùng thép phế, dù lò điện lại phụ thuộc vào cường độ phát thải của lưới điện. Hiểu rõ cấu trúc phát thải của chính mình là bước đầu tiên để biết CBAM tác động tới bạn mạnh hay nhẹ.
Ước tính chi phí CBAM: một ví dụ giả định
Ví dụ dưới đây hoàn toàn giả định để minh hoạ cách tính, không phản ánh giá carbon hay phát thải thật của doanh nghiệp nào.
- Một nhà máy xuất 1.000 tấn sản phẩm thép sang EU trong năm.
- Phát thải nội hàm thực tế được thẩm định: 1,8 tấn CO2 tương đương mỗi tấn sản phẩm. Tổng: 1.800 tấn.
- Giả sử giá chứng chỉ CBAM bình quân là 80 euro mỗi tấn CO2.
- Giả sử trong năm đó, tỷ lệ điều chỉnh tương ứng với hạn ngạch miễn phí còn lại của ngành thép EU làm giảm nghĩa vụ 10%. Nghĩa vụ còn: 1.800 × 90% = 1.620 tấn.
- Nếu nhà máy không chịu giá carbon nào ở nước sản xuất, chi phí chứng chỉ: 1.620 × 80 = 129.600 euro, tương đương khoảng 130 euro mỗi tấn sản phẩm.
- Nếu thay vì dữ liệu thực tế, nhà nhập khẩu phải dùng giá trị mặc định giả định 2,5 tấn CO2 mỗi tấn sản phẩm, nghĩa vụ tăng lên khoảng 2.250 tấn, chi phí tăng khoảng 40%.
Phép tính cho thấy hai đòn bẩy của nhà xuất khẩu: giảm phát thải thật (đổi nhiên liệu, hiệu suất năng lượng, điện tái tạo, tỷ lệ phế liệu) và có dữ liệu được thẩm định để tránh giá trị mặc định. Ai chịu chi phí này về thương mại, người mua EU hay người bán Việt Nam, là chuyện đàm phán giá; nhưng trong thị trường cạnh tranh, nhà cung cấp phát thải cao sẽ bị ép giá.
Nhà xuất khẩu Việt Nam cần chuẩn bị gì
Xác định sản phẩm thuộc phạm vi. Đối chiếu mã CN (mã hàng hoá kết hợp của EU, tám số) của sản phẩm với phụ lục CBAM. Nhiều doanh nghiệp không làm thép nhưng xuất bu lông, ốc vít, kết cấu thép vẫn thuộc phạm vi.
Thiết lập hệ thống giám sát phát thải tại nhà máy. Theo phương pháp CBAM: xác định ranh giới lắp đặt, các quy trình sản xuất, nguồn phát thải, dòng nguyên liệu và nhiên liệu, phương pháp đo hoặc tính. Hệ thống này có thể tận dụng kết quả kiểm kê khí nhà kính mà một số cơ sở đã phải làm theo quy định Việt Nam.
Thu dữ liệu từ nhà cung cấp tiền chất. Phôi thép, nhôm thỏi, clinker nhập từ nơi khác cần dữ liệu phát thải nội hàm từ nhà cung cấp. Đưa điều khoản cung cấp dữ liệu vào hợp đồng mua nguyên liệu.
Chuẩn bị cho thẩm định. Trong giai đoạn chính thức, dữ liệu phải được bên thẩm định được công nhận kiểm tra. Tìm hiểu sớm yêu cầu về hồ sơ, đo lường, hiệu chuẩn thiết bị.
Đàm phán với người mua. Thống nhất định dạng dữ liệu, thời hạn cung cấp, cách chia chi phí CBAM, và điều khoản xử lý khi dữ liệu bị cơ quan EU bác bỏ.
Theo dõi chính sách giá carbon trong nước. Việt Nam đang xây dựng thị trường carbon nội địa. Giá carbon thực trả ở Việt Nam, nếu có, có thể được khấu trừ khỏi nghĩa vụ CBAM theo quy tắc của EU.
CBAM sẽ mở rộng tới đâu
Quy định giao Uỷ ban châu Âu đánh giá việc mở rộng phạm vi sang các sản phẩm khác có nguy cơ rò rỉ carbon, như hoá chất hữu cơ, polyme, và các sản phẩm hạ nguồn chứa nhiều thép, nhôm. Uỷ ban cũng xem xét việc đưa phát thải gián tiếp vào phạm vi rộng hơn. Bất kỳ mở rộng nào cũng phải qua quy trình lập pháp, nên doanh nghiệp có thời gian chuẩn bị, nhưng xu hướng là rõ ràng.
Ngoài EU, một số nền kinh tế khác như Anh đã công bố cơ chế tương tự với lịch áp dụng riêng, và các thảo luận về điều chỉnh carbon biên giới đang diễn ra ở nhiều nơi. Nhà xuất khẩu đầu tư vào hệ thống đo lường phát thải hôm nay không chỉ phục vụ EU mà còn chuẩn bị cho yêu cầu của các khách hàng toàn cầu muốn giảm phát thải chuỗi cung ứng của chính họ.
Một bài học từ CBAM là ranh giới giữa chính sách khí hậu và chính sách thương mại đang mờ đi. Với các ngành thâm dụng năng lượng, cường độ phát thải trên mỗi tấn sản phẩm đang trở thành một chỉ tiêu cạnh tranh giống như giá thành và chất lượng.
Câu hỏi thường gặp
CBAM có phải là thuế nhập khẩu không?
Về hình thức, CBAM không phải thuế quan mà là nghĩa vụ mua chứng chỉ, được thiết kế để phản chiếu chi phí carbon mà nhà sản xuất EU phải chịu theo EU ETS. Về tác động kinh tế, nó làm tăng chi phí đưa hàng vào EU tương tự một khoản thuế, và nhiều nước đã nêu quan ngại về tính tương thích với quy tắc WTO.
Nhà xuất khẩu Việt Nam có phải đăng ký với EU không?
Nghĩa vụ khai báo và nộp chứng chỉ thuộc về người khai báo CBAM được cấp phép ở EU. Nhà sản xuất ngoài EU có thể đăng ký trong hệ thống của EU để chia sẻ dữ liệu phát thải trực tiếp với các nhà nhập khẩu, giúp tránh việc gửi dữ liệu nhiều lần cho từng khách hàng.
Doanh nghiệp xuất khẩu ít thép sang EU có bị ảnh hưởng không?
Các sửa đổi năm 2025 đưa ra ngưỡng miễn trừ theo khối lượng hằng năm cho mỗi nhà nhập khẩu, loại phần lớn nhà nhập khẩu nhỏ ra khỏi nghĩa vụ trong khi vẫn bao phủ gần hết phát thải. Nếu khách hàng của bạn là nhà nhập khẩu lớn, họ vẫn cần dữ liệu từ bạn bất kể lượng bạn bán nhỏ.
Mua tín chỉ carbon tự nguyện có giảm được nghĩa vụ CBAM không?
Không. CBAM chỉ cho khấu trừ giá carbon đã thực trả theo cơ chế định giá carbon bắt buộc ở nước sản xuất. Tín chỉ carbon tự nguyện mua để bù trừ không được tính. Cách giảm nghĩa vụ là giảm phát thải nội hàm thật và có dữ liệu được thẩm định.
Ai thẩm định dữ liệu phát thải cho nhà máy ở Việt Nam?
Theo quy định giai đoạn chính thức, dữ liệu phát thải thực tế phải được kiểm tra bởi bên thẩm định được công nhận theo quy tắc của EU. Danh sách và điều kiện công nhận do EU quy định; doanh nghiệp nên hỏi người mua và theo dõi hướng dẫn chính thức trước khi ký với đơn vị thẩm định.
Sản phẩm nhôm tái chế có lợi thế gì dưới CBAM?
Nhôm tái chế từ phế liệu cần ít năng lượng hơn nhiều so với nhôm nguyên sinh từ điện phân, nên phát thải nội hàm thấp hơn đáng kể. Theo quy tắc CBAM, phế liệu đầu vào đáp ứng điều kiện được coi là không có phát thải nội hàm, giúp sản phẩm tái chế có nghĩa vụ thấp hơn.