SPS (Sanitary and Phytosanitary) là các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật; TBT (Technical Barriers to Trade) là các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn và thủ tục đánh giá sự phù hợp áp lên sản phẩm. Cả hai đều là quyền hợp pháp của nước nhập khẩu, được Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) thừa nhận qua hai hiệp định riêng có hiệu lực từ năm 1995, và cả hai đều có thể chặn hàng của bạn ở cửa khẩu dù thuế nhập khẩu đã về 0%.
Cách phân biệt nhanh nhất là nhìn vào mục đích của biện pháp chứ không phải hình thức. Nếu quy định nhằm bảo vệ người, vật nuôi, cây trồng khỏi dịch bệnh, sinh vật gây hại, chất phụ gia, chất độc, dư lượng trong thực phẩm, đó là SPS. Mọi quy định kỹ thuật khác về sản phẩm, từ an toàn điện, ghi nhãn, kích thước, bao bì đến hiệu suất năng lượng, rơi vào TBT. Cùng một yêu cầu ghi nhãn thực phẩm có thể là SPS (cảnh báo dị ứng ảnh hưởng an toàn) hoặc TBT (quy cách trình bày thông tin dinh dưỡng).
Phân biệt đúng không phải chuyện học thuật: hai hiệp định có luật chơi khác nhau, cơ quan đầu mối khác nhau ở Việt Nam, và cách doanh nghiệp phản ứng khi thấy một quy định bất hợp lý cũng khác nhau.
Vì sao WTO cho phép nước nhập khẩu dựng rào cản kỹ thuật
Khi thuế quan giảm dần qua các vòng đàm phán GATT, các nước nhận ra quy định kỹ thuật có thể trở thành công cụ bảo hộ trá hình: chỉ cần đặt ra một tiêu chuẩn mà hàng ngoại khó đáp ứng là đủ chặn nhập khẩu. Bộ luật về rào cản kỹ thuật ra đời từ vòng Tokyo (1979) nhưng chỉ ràng buộc các nước ký. Đến vòng Uruguay, hai hiệp định SPS và TBT được đưa vào gói cam kết chung, mọi thành viên WTO phải tuân thủ.
Logic của hai hiệp định là một sự cân bằng. Một mặt, mỗi nước có quyền tự đặt mức bảo vệ mà mình cho là phù hợp: không ai ép một nước phải chấp nhận nguy cơ dịch bệnh hay hoá chất mà người dân nước đó không muốn. Mặt khác, biện pháp phải không phân biệt đối xử giữa các nguồn hàng có điều kiện tương tự, không hạn chế thương mại quá mức cần thiết để đạt mục tiêu, và phải minh bạch: dự thảo quy định mới phải được thông báo cho WTO để các nước khác góp ý trước khi áp dụng.
Với doanh nghiệp Việt Nam, điều này có hai hệ quả thực tế. Thứ nhất, đừng kỳ vọng FTA hay WTO "dỡ" được yêu cầu kỹ thuật: hiệp định thương mại cắt thuế, còn tiêu chuẩn vẫn là của nước nhập khẩu. Thứ hai, vì có nghĩa vụ thông báo, gần như mọi quy định mới đều xuất hiện công khai trước nhiều tháng. Doanh nghiệp bị bất ngờ thường là doanh nghiệp không theo dõi kênh thông báo, chứ không phải vì quy định ra đời đột ngột.
So sánh Hiệp định SPS và Hiệp định TBT
Bảng dưới gom các khác biệt quan trọng nhất cho người làm xuất khẩu. Cột "ý nghĩa thực tế" là thứ bạn cần nhớ khi gặp một quy định cụ thể.
| Khía cạnh | SPS | TBT | Ý nghĩa thực tế |
|---|---|---|---|
| Phạm vi | An toàn thực phẩm, sức khoẻ động vật, bảo vệ thực vật | Mọi quy chuẩn, tiêu chuẩn, đánh giá sự phù hợp còn lại | Nông sản, thuỷ sản, thực phẩm chịu cả hai; hàng công nghiệp chủ yếu chịu TBT |
| Căn cứ | Phải dựa trên bằng chứng khoa học và đánh giá rủi ro | Phải theo đuổi mục tiêu chính đáng (an toàn, môi trường, chống gian lận…) | Biện pháp SPS thiếu cơ sở khoa học dễ bị chất vấn hơn |
| Chuẩn quốc tế tham chiếu | Codex Alimentarius, Tổ chức Thú y Thế giới (WOAH), Công ước Bảo vệ thực vật quốc tế (IPPC) | Tiêu chuẩn quốc tế liên quan như ISO, IEC | Đạt chuẩn Codex là nền tối thiểu, nhiều thị trường đặt mức chặt hơn |
| Biện pháp tạm thời | Được áp dụng khi bằng chứng chưa đủ, phải tiếp tục thu thập | Không có cơ chế tương tự rõ ràng | Lệnh cấm khẩn cấp vì dịch bệnh thường thuộc SPS |
| Công nhận | Tương đương: chấp nhận biện pháp khác nếu đạt cùng mức bảo vệ | Thừa nhận lẫn nhau kết quả đánh giá sự phù hợp | Mở cửa thị trường nông sản thường cần đàm phán tương đương, không phải chỉ đạt chỉ tiêu |
| Khu vực hoá | Có: công nhận vùng sạch dịch, vùng ít dịch | Không áp dụng | Cơ sở của mã vùng trồng, vùng an toàn dịch bệnh |
Điểm hay bị bỏ qua là chữ "tương đương". Một nước có thể không đòi bạn làm y hệt quy trình của họ, nhưng muốn được công nhận tương đương thì cơ quan thẩm quyền hai nước phải đàm phán, thanh tra, trao đổi hồ sơ. Đó là lý do một loại trái cây có thể mất nhiều năm mới được mở cửa vào một thị trường dù doanh nghiệp đã sẵn sàng từ lâu.
Ba lớp của một biện pháp TBT: quy chuẩn, tiêu chuẩn, đánh giá sự phù hợp
Quy chuẩn kỹ thuật là bắt buộc. Phụ lục 1 của Hiệp định TBT định nghĩa quy chuẩn kỹ thuật là văn bản quy định đặc tính sản phẩm hoặc phương pháp sản xuất mà việc tuân thủ là bắt buộc. Không đạt thì hàng không được bán. Ví dụ: giới hạn chì trong sơn đồ chơi, yêu cầu an toàn điện của máy sấy tóc.
Tiêu chuẩn là tự nguyện, nhưng thị trường có thể biến nó thành bắt buộc. Tiêu chuẩn do tổ chức được công nhận ban hành, áp dụng tự nguyện. Trên thực tế, khi nhà bán lẻ lớn ghi tiêu chuẩn vào điều kiện mua hàng, nó có sức nặng như luật đối với nhà cung cấp. Đây là vùng xám mà WTO không điều chỉnh trực tiếp: chuẩn tư nhân của chuỗi siêu thị không phải biện pháp của nhà nước.
Đánh giá sự phù hợp là cách chứng minh. Thử nghiệm, giám định, chứng nhận, công nhận phòng thí nghiệm, công bố hợp chuẩn. Nhiều doanh nghiệp đạt chỉ tiêu kỹ thuật nhưng vẫn kẹt vì kết quả thử ở phòng thí nghiệm trong nước không được nước nhập khẩu chấp nhận. Hãy hỏi người mua ngay từ đầu: phòng thử nghiệm nào được chấp nhận, phương pháp thử nào, cấp công nhận nào.
Ghi nhãn là phần TBT gây vướng nhiều nhất. Ngôn ngữ, đơn vị đo, cách ghi xuất xứ, thông tin dinh dưỡng, ký hiệu tái chế, cảnh báo. Lỗi nhãn ít khi nguy hiểm nhưng là lý do phổ biến để hàng bị giữ lại hoặc phải dán lại ở cảng đích với chi phí cao.
Cách theo dõi quy định mới trước khi nó chặn hàng của bạn
Nghĩa vụ minh bạch của WTO tạo ra một nguồn thông tin miễn phí mà doanh nghiệp Việt Nam dùng rất ít. Quy trình theo dõi tối thiểu cho một doanh nghiệp xuất khẩu vài thị trường:
- Lập danh sách mã HS và thị trường chính của bạn. Không có danh sách này thì không lọc nổi hàng nghìn thông báo mỗi năm.
- Đăng ký nhận thông báo từ hệ thống cảnh báo của WTO (ePing, do WTO cùng các đối tác vận hành) theo sản phẩm và thị trường. Mỗi thông báo có tóm tắt, hạn góp ý và ngày dự kiến có hiệu lực.
- Theo dõi bản tin của điểm hỏi đáp quốc gia: Văn phòng SPS Việt Nam thuộc Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho nhóm SPS, Văn phòng TBT Việt Nam thuộc cơ quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng quốc gia cho nhóm TBT. Hai đơn vị này dịch, tóm tắt và tổ chức lấy ý kiến doanh nghiệp.
- Khi một dự thảo đụng tới sản phẩm của bạn, đọc toàn văn và ước lượng chi phí tuân thủ. Nếu thấy bất hợp lý (quá chặt so với chuẩn quốc tế, thời gian chuyển tiếp quá ngắn), gửi ý kiến qua điểm hỏi đáp trong hạn góp ý, thường khoảng 60 ngày.
- Thống nhất với người mua về mốc áp dụng: lô hàng nào phải đạt quy định mới, hàng đang đi đường xử lý thế nào.
- Ghi các thay đổi vào hồ sơ kỹ thuật sản phẩm và kế hoạch kiểm soát nội bộ, kèm ngày hiệu lực, để bộ phận sản xuất và chất lượng không phải dựa vào trí nhớ.
Góp ý của một doanh nghiệp đơn lẻ ít trọng lượng, nhưng góp ý của hiệp hội ngành qua kênh chính phủ có thể được đưa ra tại Uỷ ban SPS hoặc Uỷ ban TBT của WTO dưới dạng "mối quan ngại thương mại cụ thể". Nhiều quy định đã được lùi thời hạn hoặc nới mức nhờ cơ chế này.
Hiểu lầm phổ biến về SPS và TBT
"Có FTA thì không lo rào cản kỹ thuật." Sai. Các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA có chương SPS và TBT, nhưng nội dung chủ yếu là tăng minh bạch, hợp tác và tạo cơ chế đối thoại, không hạ chuẩn của nước nhập khẩu. Chỉ tiêu dư lượng, kiểm dịch vẫn giữ nguyên.
"Rào cản kỹ thuật là bảo hộ trá hình." Có trường hợp đúng, và WTO có cơ chế để khiếu nại. Nhưng phần lớn yêu cầu xuất phát từ mối lo có thật của người tiêu dùng nước nhập khẩu. Coi mọi tiêu chuẩn là âm mưu bảo hộ khiến doanh nghiệp chậm thích nghi, trong khi đối thủ cùng ngành ở nước khác đáp ứng được.
"Đạt tiêu chuẩn Việt Nam là đủ." Quy chuẩn Việt Nam được xây dựng cho thị trường Việt Nam. Một số chỉ tiêu trùng với chuẩn quốc tế, nhiều chỉ tiêu khác biệt về giới hạn, phương pháp thử hoặc danh mục chất được phép. Luôn đối chiếu theo quy định của nước nhập khẩu.
"Chứng nhận càng nhiều càng tốt." Mỗi chứng nhận tốn tiền đánh giá hằng năm. Chỉ đầu tư vào chứng nhận mà người mua mục tiêu thật sự yêu cầu hoặc giúp bạn vào được kênh phân phối cụ thể. Hỏi người mua trước, rồi mới chọn tổ chức chứng nhận.
Biện pháp SPS vận hành thế nào: từ đánh giá rủi ro đến mã vùng
Điều 5 của Hiệp định SPS yêu cầu biện pháp phải dựa trên đánh giá rủi ro phù hợp hoàn cảnh. Trong nông sản, đánh giá rủi ro dịch hại (PRA) là bước nước nhập khẩu xác định loại sinh vật gây hại nào có thể theo trái cây, hạt giống, gỗ vào lãnh thổ họ, xác suất xâm nhập, hậu quả nếu lan rộng, và biện pháp nào giảm được rủi ro xuống mức chấp nhận. Kết quả PRA quyết định điều kiện mở cửa: xử lý nhiệt hơi nước, chiếu xạ, xử lý lạnh, xông hơi, hay chỉ nhận hàng từ vùng trồng được đăng ký và giám sát.
Vì thế quá trình mở cửa một loại trái cây mới thường đi theo trình tự: nước xuất khẩu nộp hồ sơ kỹ thuật về sinh vật gây hại, nước nhập khẩu làm PRA, hai bên đàm phán biện pháp, chuyên gia nước nhập khẩu sang thanh tra vùng trồng và cơ sở đóng gói, ký nghị định thư, rồi mới cấp mã. Doanh nghiệp không tự làm được các bước này nhưng có thể chủ động: tham gia vùng trồng được cấp mã, giữ nhật ký canh tác, chuẩn bị cơ sở đóng gói đạt yêu cầu kiểm dịch.
Sau khi mở cửa, rủi ro chuyển sang khâu duy trì. Một lô bị phát hiện sinh vật gây hại kiểm dịch hoặc vượt dư lượng có thể dẫn tới tạm dừng mã vùng trồng, mã cơ sở đóng gói, thậm chí tạm dừng cả một mặt hàng của cả nước. Kỷ luật của một vùng trồng vì thế là tài sản chung, không chỉ của từng hộ.
Danh mục kiểm tra cho một sản phẩm trước khi chào thị trường mới
Trước khi gửi báo giá cho một thị trường bạn chưa từng bán, rà nhanh các câu hỏi sau. Câu nào chưa có đáp án là việc cần làm, không phải chi tiết để giải quyết sau khi ký hợp đồng.
- Sản phẩm đã được mở cửa vào thị trường đó chưa, có nghị định thư kiểm dịch không, điều kiện kèm theo là gì?
- Có yêu cầu đăng ký cơ sở sản xuất, vùng trồng, vùng nuôi hoặc danh sách nhà máy được phép xuất khẩu không?
- Giới hạn dư lượng, phụ gia, chất nhiễm bẩn của nước nhập khẩu khác gì so với mức mà vùng nguyên liệu đang đạt?
- Chứng thư kiểm dịch hoặc giấy chứng nhận y tế nào phải đi kèm lô hàng, ai cấp, mẫu nào?
- Yêu cầu nhãn: ngôn ngữ, thông tin bắt buộc, cảnh báo dị ứng, cách ghi xuất xứ.
- Sản phẩm công nghiệp có cần dấu hợp chuẩn, chứng nhận bắt buộc, đại diện pháp lý tại thị trường không?
- Phòng thử nghiệm và tổ chức chứng nhận nào được nước nhập khẩu hoặc người mua chấp nhận?
- Có dự thảo quy định nào sắp có hiệu lực trong 12 tháng tới làm thay đổi các câu trả lời trên không?
Quy định thay đổi liên tục và khác nhau giữa từng mặt hàng. Thông tin trong bài là nguyên lý chung; trước khi ký hợp đồng, hãy kiểm văn bản hiện hành của nước nhập khẩu, hỏi điểm hỏi đáp SPS hoặc TBT quốc gia và xác nhận bằng văn bản với người mua.
Câu hỏi thường gặp
Làm sao biết một quy định là SPS hay TBT khi nó vừa nói về an toàn vừa nói về nhãn?
Xét mục đích của từng yêu cầu cụ thể. Phần nhằm bảo vệ sức khoẻ khỏi nguy cơ trong thực phẩm, dịch bệnh, sinh vật gây hại là SPS; phần về cách trình bày, chất lượng, chống gian lận thương mại là TBT. Một văn bản có thể được thông báo theo cả hai hiệp định, và WTO cho phép điều đó.
Nước nhập khẩu có được đặt mức dư lượng chặt hơn Codex không?
Được, nếu có cơ sở khoa học hoặc đánh giá rủi ro, hoặc nếu đó là mức bảo vệ họ lựa chọn và biện pháp nhất quán. Hiệp định SPS khuyến khích hài hoà theo chuẩn quốc tế nhưng không buộc. Thực tế nhiều thị trường áp mức mặc định rất thấp cho hoạt chất chưa được họ đánh giá.
Doanh nghiệp có thể kiện một biện pháp SPS bất hợp lý lên WTO không?
Không trực tiếp. Chỉ chính phủ thành viên mới có quyền khởi kiện tại cơ chế giải quyết tranh chấp. Doanh nghiệp đi đường hiệp hội ngành và cơ quan đầu mối để chính phủ nêu mối quan ngại tại uỷ ban liên quan, đàm phán song phương, và chỉ khởi kiện khi thật cần thiết.
Chuẩn riêng của chuỗi siêu thị có bị Hiệp định TBT điều chỉnh không?
Về cơ bản không. Hiệp định điều chỉnh biện pháp của chính phủ và các tổ chức tiêu chuẩn hoá. Chuẩn tư nhân là điều kiện thương mại giữa người mua và người bán, nên nếu không đồng ý thì lựa chọn của bạn là thương lượng hoặc tìm người mua khác.
Thời gian chuyển tiếp cho một quy định mới thường là bao lâu?
Thông lệ được khuyến nghị trong khuôn khổ WTO là không ít hơn sáu tháng giữa ngày công bố và ngày hiệu lực, trừ trường hợp khẩn cấp. Các quy định lớn thường cho thời gian dài hơn nhiều. Luôn đọc điều khoản chuyển tiếp: hàng sản xuất hoặc đã xuất trước một ngày nhất định có thể được miễn.
Rào cản phi thuế quan và rào cản kỹ thuật khác nhau thế nào?
Rào cản phi thuế quan là khái niệm rộng hơn, gồm hạn ngạch, cấp phép nhập khẩu, thủ tục hải quan, quy tắc mua sắm công, biện pháp phòng vệ thương mại và cả SPS, TBT. SPS và TBT chỉ là hai nhóm kỹ thuật trong đó, nhưng là nhóm phổ biến nhất về số lượng biện pháp.