Trong điều tra chống bán phá giá, "nền kinh tế phi thị trường" (non-market economy, NME) là quy chế mà nước nhập khẩu gán cho nước xuất khẩu khi cho rằng giá và chi phí ở đó không phản ánh cung cầu, nên không dùng giá nội địa hay chi phí thực tế của doanh nghiệp để tính giá trị thông thường mà dựng giá trị này từ dữ liệu của một nước thứ ba, gọi là nước thay thế. Mỹ hiện vẫn coi Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường trong điều tra phòng vệ thương mại; Bộ Thương mại Mỹ rà soát lại quy chế này năm 2024 và quyết định giữ nguyên.
Đây là nguyên nhân cơ học quan trọng nhất khiến biên độ phá giá của doanh nghiệp Việt ở Mỹ có thể cao dù doanh nghiệp không bán dưới giá thành: giá trị thông thường phụ thuộc vào giá nguyên liệu, lao động, năng lượng ở một nước khác mà doanh nghiệp không kiểm soát được. Hiểu cơ chế giúp doanh nghiệp biết cần chuẩn bị số liệu gì và tranh luận ở đâu.
Nguồn gốc và trạng thái pháp lý của quy chế phi thị trường
Phương pháp phi thị trường ra đời trong thời kỳ GATT, khi một số nước có nền kinh tế kế hoạch tập trung gia nhập. Điều VI GATT có một ghi chú bổ sung thừa nhận khó khăn khi so sánh giá với nước mà nhà nước độc quyền ngoại thương và ấn định giá nội địa. Luật Mỹ định nghĩa nền kinh tế phi thị trường là nước không vận hành theo nguyên tắc thị trường về cơ cấu chi phí hoặc giá, đến mức giá bán hàng hoá không phản ánh giá trị hợp lý.
Khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007, Báo cáo của Ban công tác cho phép các thành viên áp phương pháp không dựa trên giá và chi phí nội địa của Việt Nam, đồng thời quy định điều khoản này chấm dứt khi Việt Nam chứng minh được mình là nền kinh tế thị trường theo luật của nước nhập khẩu, và một phần của điều khoản hết hiệu lực chậm nhất vào ngày 31/12/2018. Cách hiểu hệ quả pháp lý sau mốc 2018 vẫn còn tranh luận; trong thực tiễn Mỹ tiếp tục áp quy chế dựa trên luật nội địa.
Luật Mỹ liệt kê sáu yếu tố để đánh giá: khả năng chuyển đổi đồng tiền, mức độ tiền lương được xác định qua thương lượng tự do, mức độ cho phép liên doanh và đầu tư nước ngoài, mức độ sở hữu và kiểm soát của nhà nước với phương tiện sản xuất, mức độ kiểm soát của nhà nước với phân bổ nguồn lực và giá, và các yếu tố khác cơ quan thấy phù hợp. EU bỏ danh sách nước phi thị trường từ năm 2017 và thay bằng phương pháp "biến dạng đáng kể", áp theo từng ngành, từng nước khi có bằng chứng.
Phương pháp yếu tố sản xuất: giá trị thông thường được dựng thế nào
Thay vì dùng chi phí tiền của doanh nghiệp, Bộ Thương mại Mỹ dùng lượng tiêu hao thực tế và định giá bằng dữ liệu nước thay thế. Trình tự cơ bản:
- Doanh nghiệp báo cáo yếu tố sản xuất cho mỗi đơn vị sản phẩm: kg nguyên liệu từng loại, giờ lao động, kWh điện, mét khối nước, than, bao bì, vận chuyển nội bộ.
- Cơ quan điều tra chọn một hoặc vài nước thay thế, có trình độ phát triển kinh tế tương đương và là nhà sản xuất đáng kể hàng tương tự.
- Mỗi yếu tố được nhân với giá trong nước thay thế, thường lấy từ thống kê nhập khẩu, thống kê giá công khai hoặc dữ liệu của doanh nghiệp tại nước đó.
- Cộng thêm tỷ lệ chi phí chung, chi phí bán hàng và quản lý, lợi nhuận, lấy từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp sản xuất hàng tương tự ở nước thay thế.
- Kết quả là giá trị thông thường dựng, so với giá xuất khẩu đã điều chỉnh để ra biên độ.
Mọi yếu tố mua từ nhà cung cấp ở nước thị trường và thanh toán bằng ngoại tệ có thể được định giá theo giá thực tế mua, nếu đáp ứng điều kiện. Đây là chỗ doanh nghiệp nhập khẩu nhiều nguyên liệu có thể giảm biên độ.
Ví dụ giả định: cùng định mức, khác nước thay thế, khác biên độ
Ví dụ giả định cho một sản phẩm thuỷ sản đông lạnh, chỉ minh hoạ độ nhạy của kết quả theo lựa chọn nước thay thế. Giá xuất khẩu đã điều chỉnh về xuất xưởng là 3,00 USD/kg cho cả hai kịch bản.
| Khoản mục | Định mức trên 1 kg thành phẩm | Kịch bản nước thay thế A | Kịch bản nước thay thế B |
|---|---|---|---|
| Nguyên liệu cá sống | 2,8 kg | 0,85 USD/kg → 2,38 | 1,05 USD/kg → 2,94 |
| Lao động | 0,25 giờ | 1,2 USD/giờ → 0,30 | 1,6 USD/giờ → 0,40 |
| Điện, nước, bao bì | — | 0,18 | 0,22 |
| Chi phí chung, bán hàng, lợi nhuận | tỷ lệ từ báo cáo tài chính | 0,20 | 0,40 |
| Giá trị thông thường dựng | 3,06 | 3,96 | |
| Biên độ trên giá xuất khẩu | khoảng 2% | khoảng 32% |
Doanh nghiệp không đổi gì trong sản xuất, chỉ nước thay thế khác đi, biên độ từ gần mức không đáng kể thành rất cao. Đó là lý do tranh luận về chọn nước thay thế, nguồn giá nguyên liệu và báo cáo tài chính dùng để tính tỷ lệ là trung tâm của mọi vụ việc có yếu tố phi thị trường.
Mức thuế riêng và mức toàn quốc: tấm khiên thứ hai
Giả định mặc định. Trong điều tra với nước phi thị trường, Mỹ giả định mọi doanh nghiệp xuất khẩu chịu sự kiểm soát của nhà nước, gộp thành một thực thể toàn quốc và áp một mức thuế chung. Mức toàn quốc thường dựa vào dữ kiện bất lợi nên rất cao.
Đơn xin mức thuế riêng. Doanh nghiệp muốn thoát mức toàn quốc phải chứng minh độc lập cả về pháp lý (không có quy định nhà nước kiểm soát hoạt động xuất khẩu) và thực tế (tự quyết giá xuất khẩu, tự đàm phán hợp đồng, tự chọn ban lãnh đạo, tự quyết sử dụng lợi nhuận). Doanh nghiệp có vốn nhà nước gặp khó hơn, đặc biệt khi cổ đông nhà nước có quyền chi phối.
Mức cho doanh nghiệp được riêng nhưng không được chọn mẫu. Thường bằng bình quân biên độ của các bị đơn bắt buộc, không tính mức bằng 0, không đáng kể hoặc dựa hoàn toàn vào dữ kiện bất lợi. Thấp hơn nhiều mức toàn quốc.
Phải duy trì qua từng kỳ. Trong rà soát hành chính, doanh nghiệp phải nộp chứng nhận hoặc đơn xin mức riêng mỗi kỳ có xuất khẩu. Quên nộp có thể làm doanh nghiệp rơi về mức toàn quốc cho cả kỳ đó.
Hiểu lầm hay gặp về quy chế phi thị trường
Một số nhầm lẫn lặp lại trong trao đổi giữa doanh nghiệp và khách hàng nước ngoài, dẫn tới kỳ vọng sai về kết quả vụ việc.
- "Doanh nghiệp tư nhân hiệu quả sẽ có biên độ thấp." Hiệu quả chỉ được ghi nhận qua định mức tiêu hao; giá rẻ của nguyên liệu nội địa không được tính. Một nhà máy tư nhân hiện đại vẫn có thể có biên độ cao nếu dữ liệu nước thay thế bất lợi.
- "Mức thuế riêng nghĩa là được tính biên độ riêng." Không hẳn. Mức riêng chỉ giúp thoát mức toàn quốc; doanh nghiệp không được chọn mẫu vẫn nhận mức bình quân của nhóm được chọn.
- "Quy chế phi thị trường áp cho mọi vụ việc ở mọi nước." Mỗi nước nhập khẩu có cách đối xử riêng; nhiều đối tác đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường, và EU dùng phương pháp khác.
- "Định mức chỉ cần lấy từ tiêu chuẩn ngành." Cơ quan điều tra muốn định mức thực tế của chính nhà máy trong kỳ điều tra, có sổ sách theo dõi; định mức ước tính dễ bị bác.
Doanh nghiệp chuẩn bị gì: định mức tiêu hao là tài sản số một
Trong phương pháp yếu tố sản xuất, giá doanh nghiệp trả cho nguyên liệu nội địa không quan trọng; lượng tiêu hao mới quan trọng. Một nhà máy chế biến cá có tỷ lệ thu hồi phi-lê cao hơn, hay một nhà máy thép tiêu hao điện thấp hơn, sẽ có giá trị thông thường thấp hơn ở cùng nước thay thế. Vì vậy hệ thống ghi chép định mức theo lô, theo ca, theo dây chuyền, lưu được nhiều năm, là tài sản thật sự trong vụ kiện.
Doanh nghiệp cũng nên ghi nhận riêng phụ phẩm và phế liệu được bán hoặc tái sử dụng (đầu cá, da cá, phế liệu thép), vì có thể được khấu trừ khỏi giá trị thông thường nếu chứng minh được giá trị thương mại và lượng thu hồi. Nhiều doanh nghiệp mất khoản khấu trừ này vì không ghi chép đầy đủ.
Với nguyên liệu nhập khẩu từ nước thị trường, giữ hoá đơn, chứng từ thanh toán ngoại tệ, chứng nhận xuất xứ để có thể đề nghị định giá theo giá thực mua. Cuối cùng, theo dõi dữ liệu giá ở các nước thay thế tiềm năng để luật sư có sẵn lập luận và nguồn số liệu thay thế khi cơ quan điều tra chọn nguồn bất lợi.
Tranh luận chính sách: lý lẽ hai phía và hướng đi
Phía ủng hộ phương pháp phi thị trường cho rằng ở nền kinh tế mà nhà nước còn tác động mạnh tới giá đất, tín dụng, năng lượng và nguyên liệu, giá nội địa không phải chuẩn so sánh đáng tin, và dùng nó sẽ che mất trợ cấp ngầm. Phía phê phán chỉ ra phương pháp này tạo kết quả khó dự đoán, phụ thuộc vào lựa chọn hành chính, và có thể cho ra biên độ cao với doanh nghiệp hiệu quả, tư nhân, không nhận hỗ trợ gì.
Về phía Việt Nam, việc được công nhận quy chế kinh tế thị trường là chủ đề đối thoại thường xuyên với các đối tác thương mại; nhiều nước đã công nhận, nhưng điều quan trọng với doanh nghiệp xuất khẩu là quy chế ở chính thị trường mình bán. Quy chế có thể thay đổi qua rà soát, nên doanh nghiệp nên theo dõi thông tin chính thức thay vì dựa vào tin đồn thị trường.
Cũng cần phân biệt: quy chế phi thị trường chỉ ảnh hưởng cách tính trong điều tra phòng vệ thương mại, không phải là đánh giá chung về nền kinh tế hay rào cản thương mại khác. Với điều tra chống trợ cấp, Mỹ từ năm 2007 bắt đầu áp CVD với nước phi thị trường, và hiện đặt ra vấn đề tránh tính trùng giữa hai loại thuế.
Câu hỏi thường gặp
EU có coi Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường không?
EU không còn danh sách nước phi thị trường từ năm 2017. Thay vào đó, Uỷ ban châu Âu có thể dùng phương pháp biến dạng đáng kể khi có bằng chứng giá và chi phí ở một ngành của nước xuất khẩu bị biến dạng do can thiệp nhà nước. Doanh nghiệp cần kiểm phương pháp trong từng vụ cụ thể.
Doanh nghiệp FDI 100% vốn nước ngoài có được mức thuế riêng dễ hơn không?
Thường dễ chứng minh độc lập với nhà nước hơn, nhưng vẫn phải nộp đơn và đáp ứng tiêu chí. Ngoài ra, nếu công ty mẹ ở một nước bị điều tra, doanh nghiệp có thể bị hỏi về việc công ty mẹ chịu kiểm soát của nhà nước nước đó.
Nước thay thế được chọn dựa trên tiêu chí nào?
Hai tiêu chí chính là trình độ phát triển kinh tế tương đương, thường đo bằng thu nhập bình quân đầu người, và là nhà sản xuất đáng kể hàng tương tự. Sau đó cơ quan điều tra xét chất lượng và khả năng sử dụng của dữ liệu giá. Các bên được đề xuất và bình luận.
Có thể yêu cầu dùng giá nguyên liệu nội địa Việt Nam không?
Với phương pháp phi thị trường của Mỹ, nguyên liệu mua trong nước thường bị định giá theo nước thay thế, kể cả khi mua từ nhà cung cấp tư nhân. Ngoại lệ chính là nguyên liệu mua từ nhà cung cấp ở nước thị trường, trả bằng ngoại tệ, với khối lượng đáng kể.
Mức toàn quốc có được rà soát lại không?
Có thể thay đổi trong rà soát hành chính nếu có thông tin mới, nhưng thường giữ ở mức cao vì dựa trên dữ kiện bất lợi. Cách thực tế để tránh mức này là duy trì tư cách mức riêng qua từng kỳ rà soát.