Bán phá giá (dumping) là việc một doanh nghiệp bán hàng sang nước nhập khẩu với giá xuất khẩu thấp hơn giá trị thông thường của hàng đó, mà giá trị thông thường thường là giá bán hàng tương tự trên thị trường nội địa nước xuất khẩu trong điều kiện thương mại thông thường. Phần chênh lệch, tính theo phần trăm giá xuất khẩu CIF, gọi là biên độ phá giá.
Nói cách khác, phá giá là khái niệm so sánh giữa hai thị trường của cùng một doanh nghiệp, không phải so với giá đối thủ hay giá thế giới. Một doanh nghiệp có thể bán đắt hơn mọi đối thủ ở nước nhập khẩu mà vẫn bị kết luận phá giá nếu giá nội địa của nó còn cao hơn nữa; ngược lại có thể bán rẻ mà không phá giá.
Biên độ phá giá quyết định trực tiếp mức thuế. Vì vậy mỗi bước tính, từ chọn giao dịch nào, điều chỉnh khoản nào, tới cách gộp kết quả, đều là chỗ tranh chấp. Hiểu cơ chế giúp doanh nghiệp tổ chức số liệu từ trước, thay vì đợi khi bị kiện mới lục sổ.
Giá trị thông thường: ba cách xác định
Cách thứ nhất, ưu tiên theo Hiệp định Chống bán phá giá, là giá bán nội địa của hàng tương tự. Có hai điều kiện để dùng được: doanh số nội địa đủ lớn (thông lệ là ít nhất 5% khối lượng bán sang nước nhập khẩu, gọi là kiểm tra đủ lượng), và các giao dịch phải nằm trong "điều kiện thương mại thông thường". Giao dịch với bên liên kết theo giá không sòng phẳng, hoặc giao dịch bán dưới giá thành với khối lượng đáng kể trong thời gian kéo dài và không thu hồi được chi phí, có thể bị loại.
Cách thứ hai là giá xuất khẩu sang một nước thứ ba thích hợp, dùng khi thị trường nội địa không đủ điều kiện. Cách thứ ba là giá trị dựng (constructed value): chi phí sản xuất cộng chi phí bán hàng, chi phí quản lý chung và một mức lợi nhuận hợp lý. Với giá trị dựng, cuộc chiến chuyển sang việc phân bổ chi phí: khấu hao, chi phí lãi vay, chi phí nguyên liệu mua từ bên liên kết, chi phí khởi động dây chuyền mới.
Với doanh nghiệp từ nước bị coi là nền kinh tế phi thị trường, như Việt Nam trong các vụ điều tra của Mỹ, cả ba cách trên không được dùng; giá trị thông thường được dựng từ các yếu tố sản xuất định giá theo dữ liệu một nước thay thế. Cơ chế này có bài riêng trong danh mục, vì nó thường là nguyên nhân chính khiến biên độ của doanh nghiệp Việt cao.
Giá xuất khẩu và giá xuất khẩu dựng
Giá xuất khẩu thường là giá thực tế doanh nghiệp bán cho người mua độc lập đầu tiên ở nước nhập khẩu. Khi doanh nghiệp bán qua công ty con hoặc nhà nhập khẩu liên kết, giá giữa hai bên liên kết không đáng tin, nên cơ quan điều tra dựng giá xuất khẩu dựng (constructed export price): lấy giá công ty con bán cho khách độc lập rồi trừ ngược các chi phí phát sinh sau nhập khẩu như thuế nhập khẩu, vận chuyển nội địa, chi phí bán hàng của công ty con, và ở một số nước là cả phần lợi nhuận của khâu phân phối.
Điều này có hệ quả thực tiễn: doanh nghiệp có chi nhánh bán hàng tại Mỹ hay EU sẽ phải nộp thêm toàn bộ số liệu chi phí của chi nhánh, và mỗi khoản chi phí của chi nhánh càng lớn thì giá xuất khẩu dựng càng thấp, biên độ càng cao. Một số doanh nghiệp từng bất ngờ khi chi phí marketing, kho bãi tại thị trường đích làm biên độ tăng vọt.
Hiểu điều này, doanh nghiệp có thể chủ động trong cấu trúc bán hàng: không có cấu trúc nào "an toàn" tuyệt đối, nhưng chi phí phải được ghi nhận rõ ràng, phân bổ có cơ sở và nhất quán với báo cáo tài chính đã kiểm toán, vì cơ quan điều tra sẽ đối chiếu.
So sánh công bằng: các điều chỉnh đưa hai giá về cùng một điểm
Điều 2.4 Hiệp định Chống bán phá giá yêu cầu so sánh công bằng giữa giá trị thông thường và giá xuất khẩu, ở cùng cấp độ thương mại, thường là cấp xuất xưởng, và vào thời điểm gần nhau nhất. Các điều chỉnh hay gặp:
- Chi phí vận chuyển và bảo hiểm: trừ cước biển, bảo hiểm, vận chuyển nội địa, bốc xếp để đưa giá CIF về giá xuất xưởng.
- Chi phí tín dụng: chênh lệch thời hạn thanh toán; khách nội địa trả chậm 60 ngày và khách nước ngoài trả chậm 90 ngày thì chi phí vốn khác nhau.
- Bao bì: hàng xuất khẩu thường đóng gói khác hàng nội địa.
- Hoa hồng, bảo hành, chi phí kỹ thuật: chỉ điều chỉnh khi gắn trực tiếp với giao dịch và có chứng từ.
- Khác biệt đặc tính vật lý: khi mẫu mã bán nội địa và xuất khẩu không giống hệt, cơ quan điều tra so theo mã sản phẩm (control number) và điều chỉnh theo chênh lệch chi phí sản xuất biến đổi.
- Cấp độ thương mại: bán cho nhà phân phối khác với bán cho người dùng cuối; điều chỉnh khi chứng minh được chênh lệch giá nhất quán.
- Tỷ giá: quy đổi theo tỷ giá ngày bán; biến động tỷ giá ngắn hạn được bỏ qua theo quy định.
Gánh nặng chứng minh điều chỉnh thường thuộc về bên yêu cầu. Doanh nghiệp đòi điều chỉnh làm giảm biên độ mà không có chứng từ thì gần như chắc chắn bị bác.
Ví dụ giả định: tính biên độ phá giá cho một mã sản phẩm
Ví dụ giả định dưới đây đơn giản hoá cho một loại ống thép, chỉ để minh hoạ logic, không phản ánh vụ việc thật. Đơn vị: USD mỗi tấn.
| Khoản mục | Thị trường nội địa | Bán sang nước nhập khẩu |
|---|---|---|
| Giá bán trên hoá đơn | 820 | 760 (giá CIF) |
| Trừ cước biển và bảo hiểm | — | −45 |
| Trừ vận chuyển nội địa tới khách hoặc cảng | −15 | −10 |
| Trừ chi phí tín dụng | −5 | −8 |
| Trừ chênh lệch bao bì | — | −7 |
| Giá ở cấp xuất xưởng | 800 (giá trị thông thường) | 690 (giá xuất khẩu) |
Chênh lệch là 110 USD mỗi tấn. Biên độ phá giá thường tính trên giá xuất khẩu CIF: 110 / 760 ≈ 14,5%. Nếu doanh nghiệp chứng minh thêm được một điều chỉnh hợp lệ 20 USD cho chi phí bảo hành gắn với hàng nội địa, giá trị thông thường còn 780, biên độ giảm còn khoảng 11,8%. Mỗi điều chỉnh vài chục USD có thể dịch mức thuế nhiều điểm phần trăm, nên chứng từ chi phí là tài sản thật sự trong vụ kiện.
Trong vụ thật, phép tính này lặp lại cho hàng nghìn giao dịch và nhiều mã sản phẩm, rồi gộp lại theo bình quân gia quyền.
Zeroing và cách gộp kết quả: tranh luận kéo dài hai thập kỷ
Sau khi tính chênh lệch cho từng giao dịch hoặc từng mã sản phẩm, cơ quan điều tra phải gộp thành một biên độ chung. Có ba phương pháp được Hiệp định nêu: so sánh bình quân với bình quân, giao dịch với giao dịch, và bình quân với giao dịch (chỉ trong trường hợp có mô hình giá khác biệt đáng kể theo khách hàng, vùng hoặc thời kỳ, gọi là phá giá có mục tiêu).
Zeroing là cách xử lý trong đó các so sánh có biên độ âm (giá xuất khẩu cao hơn giá trị thông thường) bị đặt bằng 0 thay vì được dùng để bù trừ cho các so sánh dương. Kết quả là biên độ tăng, đôi khi từ mức không đáng kể thành mức đáng kể. Nhiều phán quyết của Cơ quan giải quyết tranh chấp WTO trong các vụ liên quan tới Mỹ, EU từ đầu những năm 2000 kết luận zeroing trong nhiều bối cảnh là trái Hiệp định, và Việt Nam cũng từng khởi kiện Mỹ về vấn đề này trong vụ tôm.
Tuy vậy, tranh luận chưa khép lại hoàn toàn, đặc biệt với phương pháp bình quân với giao dịch. Bài học cho doanh nghiệp: biên độ không chỉ phụ thuộc giá bán mà còn phụ thuộc phương pháp, nên luật sư cần đọc kỹ thông báo phương pháp và phản biện ngay ở giai đoạn sơ bộ.
Hiểu lầm phổ biến về bán phá giá
Những nhầm lẫn sau hay xuất hiện trong trao đổi nội bộ doanh nghiệp, và dẫn tới quyết định sai về giá hoặc về việc có tham gia điều tra hay không.
- "Bán phá giá là bán lỗ." Không nhất thiết. Doanh nghiệp có lãi ở cả hai thị trường vẫn có biên độ dương nếu giá nội địa cao hơn giá xuất khẩu sau điều chỉnh. Bán dưới giá thành chỉ là một trong các yếu tố, dùng để loại giao dịch nội địa khỏi phép tính.
- "Giá thấp hơn đối thủ ở nước nhập khẩu là bằng chứng phá giá." Đó là chỉ số về tác động giá, thuộc phần phân tích thiệt hại, không phải phần tính biên độ. Hai câu hỏi này do hai bộ dữ liệu khác nhau trả lời, ở Mỹ còn do hai cơ quan khác nhau quyết định.
- "Chỉ cần nâng giá xuất khẩu sau khi bị kiện." Biên độ ban đầu tính trên kỳ điều tra đã qua. Nâng giá chỉ có tác dụng trong các kỳ rà soát sau, và chỉ khi giá trị thông thường không tăng theo.
- "Doanh nghiệp không bán nội địa thì không thể bị tính phá giá." Khi đó giá trị thông thường được dựng từ chi phí cộng lợi nhuận hợp lý, hoặc từ dữ liệu nước thay thế. Doanh nghiệp chỉ làm hàng gia công xuất khẩu vẫn có thể có biên độ cao.
- "Biên độ là con số cố định cho cả ngành." Mỗi doanh nghiệp được chọn mẫu có biên độ riêng, và các doanh nghiệp không được chọn nhận mức khác. Hai nhà máy cạnh nhau có thể chịu thuế chênh nhau hàng chục điểm phần trăm.
Doanh nghiệp làm gì từ trước để giảm rủi ro biên độ cao
Giữ chính sách giá có lý do kinh tế rõ. Chênh lệch giá giữa thị trường cần giải thích được bằng chi phí, khối lượng, điều kiện thanh toán. Một bảng giá xuất khẩu thấp bất thường so với nội địa mà không có cơ sở chi phí là dấu hiệu rủi ro.
Tổ chức kế toán giá thành theo mã sản phẩm. Cơ quan điều tra hỏi chi phí theo từng đặc tính vật lý: mác thép, độ dày, lớp phủ, kích cỡ. Doanh nghiệp chỉ có giá thành bình quân toàn nhà máy sẽ khó chứng minh, và thường bị áp phương pháp phân bổ bất lợi.
Đối chiếu được từ giao dịch lên báo cáo tài chính. Mọi số liệu nộp phải lần ngược được tới hoá đơn, sổ cái và báo cáo đã kiểm toán. Đây là thứ được kiểm tra trong xác minh tại chỗ.
Theo dõi giá bán dưới giá thành ở thị trường nội địa. Nếu một phần lớn doanh số nội địa dưới giá thành, các giao dịch đó bị loại, giá trị thông thường dồn về các giao dịch giá cao. Chương trình xả hàng tồn hay khuyến mại mạnh ở nội địa có thể vô tình đẩy biên độ lên.
Câu hỏi thường gặp
Biên độ phá giá có phải bằng mức thuế chống bán phá giá không?
Không nhất thiết. Mức thuế không được vượt biên độ phá giá. Ở các nước áp dụng quy tắc thuế thấp hơn như EU, mức thuế có thể bằng biên độ gây thiệt hại nếu biên độ này thấp hơn. Mỹ không áp dụng quy tắc thuế thấp hơn, nên thuế thường bằng biên độ.
Kỳ điều tra là gì và vì sao quan trọng?
Kỳ điều tra phá giá thường là 12 tháng gần nhất trước khi khởi xướng, còn kỳ điều tra thiệt hại dài hơn, thường ba năm. Mọi giao dịch trong kỳ đều phải báo cáo. Những thay đổi giá sau kỳ điều tra không được tính, nên điều chỉnh giá khi đã có đơn kiện ít tác dụng với biên độ ban đầu.
Hàng chưa từng bán ở nội địa thì tính giá trị thông thường thế nào?
Khi không có doanh số nội địa đủ điều kiện, cơ quan điều tra dùng giá xuất khẩu sang nước thứ ba thích hợp hoặc giá trị dựng. Doanh nghiệp chỉ làm hàng xuất khẩu cần chuẩn bị đặc biệt kỹ hồ sơ chi phí sản xuất và tỷ lệ lợi nhuận hợp lý.
Giá bán cho công ty mẹ ở nước ngoài có được dùng làm giá xuất khẩu không?
Thường không. Giao dịch với bên liên kết bị coi là không đáng tin, nên cơ quan điều tra truy tới giao dịch đầu tiên với khách độc lập và trừ ngược chi phí, tạo ra giá xuất khẩu dựng. Doanh nghiệp FDI cần chuẩn bị số liệu của cả công ty bán hàng trong tập đoàn.
Tỷ lệ 2% không đáng kể áp dụng trong trường hợp nào?
Theo Hiệp định Chống bán phá giá, nếu biên độ của một doanh nghiệp dưới 2% giá xuất khẩu, cuộc điều tra với doanh nghiệp đó phải chấm dứt. Trong rà soát hành chính ở Mỹ, ngưỡng thường dùng thấp hơn, nên doanh nghiệp cần kiểm luật cụ thể của từng giai đoạn.