Trị giá hải quan là trị giá của hàng hoá dùng làm cơ sở tính thuế nhập khẩu (và các loại thuế, phí tính theo đó), được xác định theo sáu phương pháp áp dụng theo thứ tự, trong đó phương pháp đầu tiên và phổ biến nhất là trị giá giao dịch: giá thực tế đã trả hay sẽ phải trả cho hàng nhập khẩu, cộng hoặc trừ một số khoản điều chỉnh. Với hàng nhập khẩu, Việt Nam xác định trị giá tới cửa khẩu nhập đầu tiên, nên cước vận chuyển và bảo hiểm quốc tế được tính vào.
Khung này bắt nguồn từ Hiệp định về thực thi Điều VII của GATT 1994, quen gọi là Hiệp định trị giá hải quan của WTO, được nội luật hoá trong Luật Hải quan, luật thuế xuất nhập khẩu và thông tư hướng dẫn về trị giá. Bài này giải thích logic của từng phương pháp, các khoản điều chỉnh hay bị bỏ sót, tình huống giao dịch giữa các bên có quan hệ đặc biệt, và cách chuẩn bị khi bị tham vấn hoặc bác bỏ trị giá khai báo. Danh mục cụ thể các khoản cộng, trừ và thủ tục tham vấn cần đối chiếu văn bản hiện hành.
Vì sao cần một luật chơi chung về trị giá
Trước khi có Hiệp định trị giá, nhiều nước dùng giá tham chiếu, giá tối thiểu hoặc "giá bán tại thị trường nước nhập khẩu" để tính thuế, khiến cùng một lô hàng có thể chịu thuế rất khác nhau tuỳ cách cơ quan hải quan định giá. Điều đó tạo ra hàng rào thương mại không minh bạch. Vòng đàm phán Tokyo (kết thúc năm 1979) đưa ra Bộ luật trị giá, sau đó Vòng Uruguay biến nó thành hiệp định bắt buộc với mọi thành viên WTO từ năm 1995.
Tinh thần của hiệp định là trị giá phải dựa trên giao dịch thực, không dựa trên giá tuỳ ý hay giá tham chiếu. Hải quan chỉ được gạt giá giao dịch khi có căn cứ: giao dịch không đáp ứng điều kiện, hoặc có nghi ngờ hợp lý về tính trung thực, chính xác của giá khai mà doanh nghiệp không giải trình được. Khi đó các phương pháp thay thế được áp dụng theo thứ tự chặt chẽ.
Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 và áp dụng nguyên tắc này. Cơ sở dữ liệu giá mà hải quan xây dựng được dùng để quản lý rủi ro và chọn tờ khai cần kiểm tra, chứ về nguyên tắc không phải để thay thế giá giao dịch một cách tự động. Hiểu điều này giúp doanh nghiệp đối thoại đúng tầm khi bị nghi vấn trị giá.
Sáu phương pháp xác định trị giá theo thứ tự
Phương pháp sau chỉ dùng khi phương pháp trước không áp dụng được. Riêng phương pháp 4 và 5 có thể đổi thứ tự theo đề nghị của người khai, nếu cơ quan hải quan chấp nhận.
| Thứ tự | Phương pháp | Ý tưởng cốt lõi | Khi nào dùng |
|---|---|---|---|
| 1 | Trị giá giao dịch | Giá thực trả hay phải trả cho chính lô hàng, cộng/trừ khoản điều chỉnh | Mặc định cho mua bán thông thường |
| 2 | Trị giá giao dịch của hàng giống hệt | Lấy trị giá giao dịch đã được chấp nhận của hàng giống hệt, xuất cùng hoặc gần thời điểm | Lô hàng không có giao dịch mua bán hợp lệ |
| 3 | Trị giá giao dịch của hàng tương tự | Như trên nhưng với hàng tương tự về đặc tính và công dụng | Không có hàng giống hệt |
| 4 | Trị giá khấu trừ | Đi ngược từ giá bán lại trong nước, trừ lợi nhuận, chi phí, thuế, vận chuyển nội địa | Hàng được bán lại trong nước, có dữ liệu giá bán |
| 5 | Trị giá tính toán | Cộng chi phí sản xuất, lợi nhuận và chi phí chung, vận chuyển tới cửa khẩu | Có dữ liệu chi phí từ nhà sản xuất, thường giữa các bên liên kết |
| 6 | Phương pháp suy luận | Áp dụng linh hoạt các phương pháp trên với dữ liệu sẵn có | Mọi phương pháp trên đều không áp dụng được |
Phương pháp suy luận không cho phép dùng giá tối thiểu, giá bán ở nước xuất khẩu, giá trong nước của hàng sản xuất tại nước nhập khẩu, hay trị giá tuỳ tiện. Đây là giới hạn quan trọng mà doanh nghiệp có thể viện dẫn khi trị giá bị xác định lại.
Bốn điều kiện để được dùng trị giá giao dịch
Người mua không bị hạn chế quyền định đoạt hay sử dụng hàng. Trừ những hạn chế do pháp luật nước nhập khẩu đặt ra, giới hạn khu vực bán lại, hoặc hạn chế không ảnh hưởng đáng kể tới trị giá. Một hợp đồng cấm người mua bán lại trừ khi được người bán đồng ý về giá có thể làm mất điều kiện này.
Giá không phụ thuộc điều kiện mà không xác định được trị giá. Ví dụ người bán định giá thấp với điều kiện người mua phải mua một mặt hàng khác với số lượng nhất định; khi không lượng hoá được phần điều kiện đó, giá giao dịch không còn đại diện.
Không có khoản tiền người mua trả lại cho người bán từ việc bán lại hàng, trừ khi cộng được vào trị giá. Kiểu thoả thuận chia lợi nhuận bán lại phải được lượng hoá và cộng vào; không lượng hoá được thì không dùng được trị giá giao dịch.
Người mua và người bán không có quan hệ đặc biệt, hoặc quan hệ đó không ảnh hưởng tới giá. Đây là điều kiện hay gây tranh luận nhất, vì giao dịch nội bộ tập đoàn rất phổ biến. Có quan hệ đặc biệt không tự động làm mất trị giá giao dịch; người khai cần chứng minh giá không bị ảnh hưởng.
Các khoản phải cộng và được trừ hay bị bỏ sót
Theo Điều 8 của Hiệp định và quy định hướng dẫn trong nước, một số khoản phải cộng vào giá thực trả nếu người mua đã chịu mà chưa nằm trong giá: hoa hồng bán hàng và phí môi giới (nhưng không gồm hoa hồng mua hàng trả cho đại lý của chính người mua), chi phí bao bì gắn liền và chi phí đóng gói, trị giá hàng hoá và dịch vụ người mua cung cấp miễn phí hoặc giảm giá cho người bán để sản xuất hàng (khuôn mẫu, nguyên liệu, thiết kế thực hiện ngoài nước nhập khẩu), phí bản quyền và phí giấy phép liên quan tới hàng và là điều kiện của việc mua bán, khoản tiền người mua trả lại từ việc bán lại, và với Việt Nam là cước vận tải, bảo hiểm tới cửa khẩu nhập đầu tiên.
Ngược lại, một số khoản được trừ nếu tách riêng được và có chứng từ: chi phí xây dựng, lắp đặt, bảo dưỡng, trợ giúp kỹ thuật sau khi nhập khẩu; cước vận chuyển và bảo hiểm sau cửa khẩu nhập; thuế và phí phải nộp ở Việt Nam; lãi trả chậm theo thoả thuận tài trợ riêng.
Ba khoản hay bị bỏ sót nhất trong thực tế là phí bản quyền, khuôn mẫu do người mua cung cấp và hoa hồng bán hàng. Phí bản quyền thường được hạch toán ở bộ phận khác và trả theo doanh thu hằng quý, nên không ai nghĩ tới tờ khai. Khuôn mẫu do người mua đặt làm rồi gửi cho nhà sản xuất nước ngoài thường không xuất hiện trên hoá đơn hàng. Đây chính là chỗ kiểm tra sau thông quan hay tìm thấy chênh lệch.
Ví dụ giả định: tính trị giá giao dịch
Một doanh nghiệp nhập linh kiện theo điều kiện giao hàng tại cảng xếp hàng. Các con số dưới đây là ví dụ giả định, đơn vị nghìn USD, để minh hoạ cách cộng trừ.
| Khoản mục | Số tiền | Xử lý |
|---|---|---|
| Giá trên hoá đơn | 100 | Giá thực trả, điểm xuất phát |
| Cước biển và bảo hiểm tới cảng Việt Nam | 6 | Cộng, vì Việt Nam tính tới cửa khẩu nhập đầu tiên |
| Khuôn đúc người mua tự đặt làm và gửi miễn phí cho nhà sản xuất, phân bổ cho lô này | 4 | Cộng, là hàng hoá người mua cung cấp để sản xuất |
| Phí bản quyền công nghệ trả cho người bán, là điều kiện mua hàng, phân bổ cho lô này | 3 | Cộng nếu liên quan tới hàng nhập và là điều kiện mua bán |
| Hoa hồng trả cho đại lý mua hàng của chính doanh nghiệp | 1 | Không cộng, là hoa hồng mua hàng |
| Phí lắp đặt tại nhà máy ở Việt Nam, tách riêng trên hoá đơn | 2 | Không thuộc giá hàng nếu tách riêng và có chứng từ |
| Trị giá hải quan | 113 | 100 + 6 + 4 + 3 |
Ví dụ cho thấy chênh lệch có thể lên tới hơn một phần mười trị giá chỉ vì các khoản nằm ngoài hoá đơn. Việc phân bổ khuôn mẫu và phí bản quyền cho từng lô cần có phương pháp hợp lý, nhất quán và lưu lại, vì đó là điểm hải quan sẽ hỏi.
Quan hệ đặc biệt, tham vấn và bác bỏ trị giá khai báo
Khi người mua và người bán là công ty mẹ, con, cùng tập đoàn hoặc có quan hệ sở hữu, kiểm soát theo định nghĩa của pháp luật, tờ khai phải khai rõ có quan hệ đặc biệt và có ảnh hưởng tới giá hay không. Để chứng minh không ảnh hưởng, người khai có hai hướng: chứng minh hoàn cảnh bán hàng cho thấy giá được định như với bên độc lập (ví dụ chính sách giá áp dụng giống cho khách không liên kết, giá đủ bù chi phí và có lợi nhuận bình thường), hoặc chứng minh giá xấp xỉ trị giá kiểm tra, tức trị giá đã được chấp nhận của hàng giống hệt, tương tự bán cho người mua không liên kết.
Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết lập cho mục đích thuế thu nhập doanh nghiệp có thể hữu ích, nhưng không tự động được chấp nhận cho trị giá hải quan, vì hai hệ thống nhìn giá theo hai hướng ngược nhau: thuế thu nhập lo giá nhập quá cao làm giảm lợi nhuận trong nước, hải quan lo giá nhập quá thấp làm giảm thuế nhập khẩu. WCO đã có hướng dẫn về việc sử dụng tài liệu chuyển giá trong xác định trị giá hải quan, nhưng doanh nghiệp vẫn cần chuẩn bị lập luận riêng.
Khi tờ khai bị nghi vấn, hải quan có thể yêu cầu tham vấn: doanh nghiệp giải trình và cung cấp chứng từ như hợp đồng, chứng từ thanh toán, đơn chào hàng, bảng giá, hồ sơ kế toán. Nếu không chứng minh được, hải quan bác bỏ trị giá khai báo và xác định lại theo các phương pháp kế tiếp. Cách chuẩn bị tốt nhất là lưu sẵn "hồ sơ giá" cho mỗi nhà cung cấp chính, giải thích được vì sao giá ở mức đó.
Câu hỏi thường gặp
Hàng biếu tặng, hàng mẫu không thanh toán thì xác định trị giá thế nào?
Không có giao dịch mua bán nên không dùng được trị giá giao dịch; hải quan sẽ áp dụng các phương pháp kế tiếp theo thứ tự, thường là trị giá của hàng giống hệt hoặc tương tự. Người khai vẫn phải khai trị giá hợp lý và chuẩn bị tài liệu chứng minh cách xác định.
Giảm giá sau khi đã nhập khẩu có được điều chỉnh trị giá không?
Nguyên tắc chung là trị giá xác định theo giá tại thời điểm giao dịch; khoản giảm giá được tính nếu được thoả thuận trước khi nhập khẩu, thể hiện bằng văn bản và chứng từ thanh toán. Giảm giá phát sinh sau, ví dụ do hàng lỗi, được xử lý theo quy định riêng, cần kiểm văn bản hiện hành.
Trị giá hải quan có liên quan gì tới giá vốn hàng nhập trên sổ kế toán?
Hai con số khác nhau về mục đích nhưng phải giải thích được với nhau. Giá vốn kế toán còn gồm chi phí trong nước, thuế không được khấu trừ, chi phí kho. Khi kiểm tra sau thông quan, hải quan thường đối chiếu sổ kế toán để tìm các khoản lẽ ra phải cộng vào trị giá.
Thanh toán qua bên thứ ba thì có bị nghi vấn trị giá không?
Thanh toán cho một bên không phải người bán trên hoá đơn là tình huống hải quan sẽ hỏi, vì nó có thể che giấu khoản thanh toán bổ sung hoặc quan hệ đặc biệt. Doanh nghiệp cần có hợp đồng, văn bản chỉ định thanh toán và giải thích thương mại hợp lý.
Cơ sở dữ liệu giá của hải quan có phải là giá tối thiểu không?
Không. Về nguyên tắc, dữ liệu giá dùng để quản lý rủi ro, chọn tờ khai cần kiểm tra và tham vấn. Giá khai thấp hơn dữ liệu không tự động bị bác; doanh nghiệp có quyền giải trình và chứng minh giá giao dịch là thực.