Cộng gộp xuất xứ (cumulation) là quy định cho phép nguyên liệu có xuất xứ — hoặc trong hình thức rộng hơn, công đoạn sản xuất — ở một nước thành viên khác được coi như của nước sản xuất thành phẩm khi xét xuất xứ. Nhờ đó, một doanh nghiệp Việt Nam dùng linh kiện có xuất xứ Thái Lan hay Nhật Bản có thể tính phần đó vào hàm lượng giá trị khu vực, thay vì coi là nguyên liệu nhập khẩu không có xuất xứ.
Mức độ cộng gộp khác nhau rất nhiều giữa các hiệp định: từ song phương (chỉ hai bên), qua từng phần (chỉ tính nguyên liệu đã tự đạt xuất xứ hoặc đạt một ngưỡng), tới toàn phần (tính mọi công đoạn trong khối). Hiểu đúng hình thức cộng gộp của hiệp định mình dùng thường là cách rẻ nhất để một sản phẩm "suýt đạt" trở thành "đạt". Bài này giải thích từng hình thức, cách áp dụng trong ATIGA, RCEP, CPTPP và hồ sơ cần có.
Bốn hình thức cộng gộp
Thuật ngữ có thể khác nhau giữa các tài liệu, nhưng về bản chất có bốn mức, từ hẹp tới rộng:
| Hình thức | Nội dung | Điều kiện điển hình | Gặp ở đâu |
|---|---|---|---|
| Song phương | Nguyên liệu có xuất xứ của nước đối tác được coi như có xuất xứ nước sản xuất | Nguyên liệu phải tự đạt xuất xứ, có chứng từ | Hầu hết FTA song phương, như EVFTA, VKFTA |
| Khu vực (chéo) với nguyên liệu đã đạt xuất xứ | Như trên nhưng mở cho mọi thành viên của khối | Nguyên liệu đạt xuất xứ của hiệp định đó | ATIGA, RCEP, các FTA ASEAN+1 |
| Từng phần theo tỷ lệ | Nguyên liệu chưa tự đạt xuất xứ vẫn được tính một phần nếu đạt ngưỡng tối thiểu | Ví dụ trong ATIGA: nguyên liệu có RVC từ 20% được cộng theo tỷ lệ | ATIGA |
| Toàn phần | Mọi công đoạn, giá trị gia tăng ở bất kỳ thành viên nào đều được tính, kể cả trên nguyên liệu chưa đạt xuất xứ | Chứng minh được giá trị tạo ra ở từng nước | CPTPP |
Cộng gộp toàn phần mạnh nhất nhưng đòi dữ liệu nhiều nhất: doanh nghiệp phải có thông tin về giá trị tạo ra ở nước cung cấp, thứ mà nhà cung cấp không phải lúc nào cũng muốn hay có khả năng chia sẻ.
Vì sao cộng gộp quan trọng với Việt Nam
Sản xuất của Việt Nam gắn chặt với chuỗi cung ứng khu vực: linh kiện điện tử từ Hàn Quốc, Nhật Bản; vải, phụ liệu từ nhiều nước châu Á; nguyên liệu hoá chất từ Thái Lan, Malaysia. Phần giá trị tạo ra hoàn toàn trong nước của nhiều sản phẩm xuất khẩu không đủ để đạt ngưỡng RVC nếu chỉ tính riêng Việt Nam. Cộng gộp giúp phần giá trị của chuỗi khu vực được ghi nhận.
Về lý thuyết, cộng gộp càng rộng thì khối FTA càng giống một không gian sản xuất chung, và chi phí chệch hướng thương mại do quy tắc xuất xứ gây ra càng nhỏ. Đây là một trong những lý do RCEP được giới phân tích đánh giá cao dù mức cắt giảm thuế không sâu bằng CPTPP: nó tạo một bộ quy tắc thống nhất và cho cộng gộp giữa 15 nền kinh tế, vốn trước đây bị chia cắt bởi nhiều hiệp định ASEAN+1 riêng lẻ.
Với doanh nghiệp, ý nghĩa thực tế là: khi đánh giá nhà cung cấp, ngoài giá và chất lượng còn phải hỏi nguyên liệu này có chứng từ xuất xứ của hiệp định nào. Hai nhà cung cấp cùng giá, một có C/O ưu đãi phù hợp, một không có — giá trị thật của họ với bạn khác nhau.
Ví dụ giả định: cùng một sản phẩm, ba kết quả
Số liệu giả định để minh hoạ. Một doanh nghiệp ở Bắc Ninh lắp ráp thiết bị gia dụng, giá FOB 100 USD. Linh kiện chính là một mô-đun điều khiển nhập từ Thái Lan trị giá 35 USD; các linh kiện khác nhập từ một nước ngoài mọi khối trị giá 30 USD; phần còn lại là giá trị tạo ra tại Việt Nam. Ngưỡng giả định: RVC 40%.
Nếu không cộng gộp, cả mô-đun Thái Lan lẫn linh kiện ngoài khối đều là không có xuất xứ: RVC = (100 − 65) ÷ 100 = 35%, không đạt. Nếu xuất sang một nước ASEAN theo ATIGA và mô-đun có C/O mẫu D chứng minh đã đạt xuất xứ ASEAN, mô-đun được tính là có xuất xứ: RVC = (100 − 30) ÷ 100 = 70%, đạt. Nếu mô-đun không tự đạt xuất xứ nhưng có hàm lượng giá trị ASEAN 25%, ATIGA cho cộng gộp từng phần theo tỷ lệ: khoảng 25% của 35 USD, tức 8,75 USD, được tính; RVC xấp xỉ 43,75%, vẫn đạt.
Cùng sản phẩm đó xuất sang EU theo EVFTA thì mô-đun Thái Lan không được cộng gộp theo nguyên tắc song phương, và lúc này phải tính theo quy tắc MaxNOM trên giá xuất xưởng của hiệp định đó. Bài học: cộng gộp không phải thuộc tính của sản phẩm mà của cặp sản phẩm – hiệp định, và dữ liệu xuất xứ của nhà cung cấp là đầu vào quyết định.
Cộng gộp trong RCEP: những điểm cần nắm
Phạm vi. Nguyên liệu và hàng hoá có xuất xứ RCEP của bất kỳ nước thành viên nào, dùng để sản xuất tại một nước thành viên khác, được coi là có xuất xứ của nước sản xuất. Điều này mở cộng gộp giữa các cặp nước trước đây không có FTA trực tiếp với nhau, như Nhật Bản và Hàn Quốc trong khuôn khổ ASEAN.
Nguyên liệu phải đạt xuất xứ RCEP. Có C/O ASEAN – Hàn Quốc không có nghĩa là có xuất xứ RCEP. Khi muốn cộng gộp theo RCEP, nhà cung cấp phải chứng minh nguyên liệu đạt quy tắc RCEP, thường bằng C/O mẫu RCEP hoặc bản tự chứng nhận theo RCEP.
Cộng gộp rộng hơn đang được xem xét. Hiệp định có điều khoản về việc rà soát mở rộng cộng gộp sang các công đoạn sản xuất và giá trị gia tăng trên nguyên liệu chưa đạt xuất xứ. Trạng thái áp dụng cần kiểm theo văn bản hiện hành.
Quy tắc xác định nước xuất xứ RCEP. Vì thuế suất RCEP của một nước nhập khẩu có thể khác nhau tuỳ nước xuất khẩu, hiệp định có quy tắc riêng để xác định "nước xuất xứ RCEP" của hàng hoá, dựa vào mức đóng góp giá trị. Điều này ảnh hưởng tới mức thuế người mua được hưởng.
Hồ sơ để áp dụng cộng gộp
Cộng gộp chỉ có giá trị khi chứng minh được. Bộ hồ sơ tối thiểu nên gồm:
- Danh sách nguyên liệu dự định cộng gộp, kèm nước sản xuất và hiệp định áp dụng.
- Chứng từ xuất xứ của từng nguyên liệu theo đúng hiệp định: C/O ưu đãi, bản tự chứng nhận, hoặc bản khai của nhà cung cấp với nguyên liệu mua trong nước.
- Với cộng gộp từng phần hay toàn phần: tài liệu thể hiện hàm lượng giá trị khu vực của nguyên liệu, thường là bản khai chi tiết của nhà cung cấp.
- Tờ khai nhập khẩu và hoá đơn để đối chiếu trị giá, số lượng.
- Bảng tính xuất xứ của thành phẩm thể hiện rõ phần được cộng gộp.
- Khai đúng ô cộng gộp trên C/O hoặc chứng từ tự chứng nhận nếu hiệp định yêu cầu.
Điểm hay bị hỏng ở bước 2: nhà cung cấp nước ngoài gửi C/O của một hiệp định khác với hiệp định doanh nghiệp định dùng cho thành phẩm. Cần ghi rõ yêu cầu chứng từ theo hiệp định cụ thể trong đơn đặt hàng nguyên liệu.
Những nhầm lẫn thường gặp về cộng gộp
Các sai lầm sau làm hồ sơ cộng gộp bị bác khi xác minh:
- Coi mọi nguyên liệu nhập từ nước thành viên là có xuất xứ, trong khi không có chứng từ.
- Dùng chứng từ của hiệp định này để cộng gộp trong hiệp định khác.
- Cộng gộp với nước không phải thành viên của hiệp định đang dùng, ví dụ cộng nguyên liệu Trung Quốc khi xuất sang Canada theo CPTPP.
- Áp tỷ lệ cộng gộp từng phần của ATIGA sang hiệp định không có quy định tương tự.
- Quên rằng nguyên liệu được cộng gộp phải qua công đoạn vượt mức giản đơn tại nước sản xuất thành phẩm; đóng gói lại hàng nhập từ nước thành viên không tạo xuất xứ.
Điểm cuối cùng đặc biệt quan trọng: nhiều hiệp định quy định nếu công đoạn tại nước cuối chỉ là giản đơn, xuất xứ của hàng là nước có đóng góp giá trị lớn nhất trong khối, không phải nước xuất khẩu.
Cộng gộp như một công cụ thiết kế chuỗi cung ứng
Các tập đoàn đa quốc gia ở Việt Nam thường thiết kế chuỗi cung ứng với quy tắc cộng gộp trong tay: chọn đặt công đoạn nào ở nước nào để thành phẩm đạt xuất xứ vào các thị trường mục tiêu. Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể dùng cùng tư duy ở quy mô nhỏ hơn.
Khi chọn giữa hai nhà cung cấp, đưa "giá trị xuất xứ" vào bảng so sánh: nguyên liệu có chứng từ phù hợp đáng giá thêm bao nhiêu khi tính theo ưu đãi thuế khách hàng nhận được. Khi khách hàng ở thị trường A đòi ưu đãi, xem nhà cung cấp hiện tại có thuộc khối hiệp định của thị trường A không; nếu không, tìm phương án thay thế trong khối. Và khi đàm phán hợp đồng nguyên liệu dài hạn, đưa nghĩa vụ cung cấp chứng từ xuất xứ cùng nghĩa vụ hợp tác khi xác minh vào điều khoản — đó là phần thường bị bỏ quên nhất mà quan trọng nhất.
Câu hỏi thường gặp
Cộng gộp có áp dụng cho tiêu chí chuyển đổi mã số không?
Có. Nguyên liệu được cộng gộp được coi là có xuất xứ, nên không cần xét chuyển đổi mã số cho nó. Điều này có thể giúp sản phẩm đạt tiêu chí CTC khi một nguyên liệu nhập từ nước thành viên khác cùng nhóm HS với thành phẩm.
Nguyên liệu mua từ doanh nghiệp FDI trong nước có được coi là có xuất xứ không?
Được, nếu nguyên liệu đó đạt quy tắc xuất xứ và có bằng chứng. Tư cách FDI hay nội địa của nhà cung cấp không quyết định xuất xứ. Cần bản khai hoặc cam kết xuất xứ kèm tài liệu chứng minh như với mọi nhà cung cấp khác.
Vì sao cộng gộp toàn phần ít được dùng dù có lợi?
Vì đòi dữ liệu về giá trị tạo ra ở từng nước trong chuỗi, kể cả trên nguyên liệu chưa đạt xuất xứ. Nhà cung cấp phải khai chi tiết chi phí, thứ họ thường coi là bí mật kinh doanh. Doanh nghiệp chỉ nên dùng khi chênh lệch thuế đủ lớn và nhà cung cấp sẵn sàng hợp tác.
Hàng có xuất xứ cộng gộp thì nước xuất xứ ghi trên C/O là nước nào?
Thường là nước sản xuất thành phẩm cuối cùng, miễn công đoạn tại đó vượt mức giản đơn. Một số hiệp định như RCEP có quy tắc bổ sung để xác định nước xuất xứ cho mục đích áp thuế khi biểu thuế phân biệt theo nước. Kiểm hướng dẫn cụ thể khi khai.
Có thể cộng gộp nguyên liệu từ EU khi xuất sang Nhật theo CPTPP không?
Không. EU không phải thành viên CPTPP, nên nguyên liệu EU là không có xuất xứ trong hiệp định này. Ngược lại, khi xuất sang EU theo EVFTA, nguyên liệu EU được cộng gộp song phương. Mỗi hiệp định chỉ cộng gộp trong phạm vi thành viên của nó.